Mộng Hoa Lâu
Nạp Tiền

Chương 2495: Đỗ Đạt

Đất phong của Mãn Bảo cũng chẳng phải vùng đất màu mỡ trù phú gì cho cam, thành thử giá đất cũng khá “mềm”, đặc biệt là loại đất hoang.

Chu Lập Quân tinh mắt chấm được một mảnh đất hoang nằm sát mặt đường lớn rồi mua đứt. Giờ đây, cả khu xưởng sản xuất và nhà ở đã được cất xong xuôi, thế nên cả đại gia đình mới rồng rắn kéo nhau xuống mục sở thị.

Tiến độ thi công thần tốc nhường ấy là nhờ bọn họ áp dụng bản vẽ thiết kế của mấy viện t.ử nông thôn, chứ không chia khu vực cầu kỳ, tỉ mẩn như đợt xây trang t.ử ở Bồ thôn. Hơn nữa, gạch ngói gỗ lạt đều dùng hàng tuyển.

Toàn bộ khu xưởng là một dãy các viện t.ử và phòng ốc san sát nhau. Bên trong được quy hoạch bài bản, rõ ràng thành từng phòng chuyên biệt: phòng nghiền t.h.u.ố.c, phòng nấu t.h.u.ố.c, phòng luyện dầu… dựa trên kinh nghiệm đúc kết của đám Lục thị.

Tính ra phân chia cũng quy củ, chuyên nghiệp phết.

Đến lúc đó, xưởng sẽ cần tuyển mộ một lượng nhân công kha khá, và Chu Lập Quân đã chốt sổ: Chỉ tuyển người dân sinh sống trên đất phong của tiểu cô.

Mãn Bảo hớn hở ôm cái bình hoa lạch bạch chạy sang phòng Trịnh thị.

Trịnh thị ngắm nghía cái bình hoa trên tay, đem đặt thử lên kệ ở gian ngoài, nhưng ngắm qua ngắm lại thấy nó lạc quẻ với không gian xung quanh, bèn ôm luôn vào thư phòng của mình, kiếm một cái kệ trống đặt lên. Lúc này bà mới gật gù ưng ý.

“Cháu hái ngoài hoa viên đó à?”

Mãn Bảo gật đầu như giã tỏi, cười toe toét: “Cháu mới vặt có một chút xíu thôi.”

Đến chiều muộn, lúc Trịnh thị đủng đỉnh đi tản bộ qua hoa viên mới tá hỏa nhận ra, cái này mà gọi là “một chút xíu” à? Mấy gốc hoa cưng của bà bị vặt trụi lủi, xót ruột đến đứt từng khúc ruột. Thế là bà lật đật ra lệnh giăng rào bảo vệ mấy nụ hoa còn thoi thóp, cấm tiệt không cho Chu Mãn đụng vào.

Bà cằn nhằn: “Cắt hoa cũng phải có kỹ thuật chứ, ít nhất cũng phải chừa lại một bông hoa đang nở trên cành, chứ vặt trụi lủi trơ trọi cành không trông xấu hoắc.”

Mãn Bảo gật đầu lia lịa, hứa hẹn: “Trịnh di yên tâm, hôm nào cháu ra chợ mua hẳn hoa tươi về cắm cho dì ngắm.”

Trịnh thị nghe vậy liền dặn dò: “Nhớ chọn loại hoa to bự đấy nhé.”

Cái này đối với Mãn Bảo thì dễ như trở bàn tay.

Nàng tươi cười đồng ý, quay lưng là lập tức vào thương thành chốt đơn một đống hoa tươi đủ loại. Đợi đến lúc hết kỳ nghỉ, đi làm về lượn lờ ra phố một vòng, lúc về nhà đã ôm khư khư một bó hoa to đùng.

Trịnh thị thừa biết Mãn Bảo luôn có mối rinh về được những bông hoa tuyệt sắc, nên mừng rỡ vô cùng. Bà cùng Mãn Bảo xắn tay vào cắm hoa, tự thưởng cho mình một bình, số còn lại thì đem biếu Lưu lão phu nhân và những vị phu nhân thân thiết như Bạch thái thái, Tiểu Tiền thị.

Chưa kịp đi làm lại được mấy ngày đã tới kỳ nghỉ tết Trùng Dương.

Cơ mà đợt này đám Mãn Bảo chẳng ai buồn rủ nhau đi chơi, tự giam mình ở nhà để tiếp sức cho ba chàng sĩ t.ử Bạch Nhị Lang ôn luyện kinh sử.

Chuyến lên kinh lần này, Quan Vịnh được diện kiến cuốn b.út ký của Bạch Thiện mà trầm trồ không ngớt. Quả nhiên trình độ của tiên sinh trường huyện so với Quốc T.ử Giám đúng là một trời một vực, chứ chưa thèm nói tới Sùng Văn Quán.

Ngày nào hắn cũng được mở mang tầm mắt với mớ kiến thức mới mẻ. Và thế là hắn tự biết lượng sức mình, đợt thi Tiến sĩ này coi như đi thi thử cho biết mùi đời, cọ xát kinh nghiệm. Đọc xong mấy bài luận của Bạch Thiện, hắn ý thức được rằng dẫu dùi mài kinh sử thêm ba năm nữa, cái danh Tiến sĩ cũng chưa chắc đã lọt vào tay.

Mà trình độ văn chương của Bạch Đại Lang, Bạch Nhị Lang cũng đâu phải dạng vừa, hắn cảm thấy mình còn mướt mùa mới đuổi kịp.

Quan Vịnh lén lút rỉ tai vợ: “Chắc vợ chồng mình phải cắm rễ ở kinh thành tới kỳ thi Minh kinh năm sau quá, ta thi Tiến sĩ chắc mẩm là rớt rồi.”

Chu Lập Tín đã lường trước điều này, Tiến sĩ đâu phải chuyện dễ xơi. Nàng gật đầu trấn an: “Chẳng hề hấn gì, cứ ở lại đây. Chàng còn được theo Trang tiên sinh dùi mài kinh sử nữa mà. Hồi trước thiếp cũng từng theo học Trang tiên sinh hai năm đấy, tính ra hai vợ chồng mình là đồng môn rồi.”

Quan Vịnh nghe vậy không kìm được bật cười: “Biết Trang tiên sinh tài cao học rộng thế này, hồi đó ta đã xách khăn gói quả mướp sang Thất Lý thôn bái sư học đạo rồi.”

Khổ nỗi ngày xưa Trang tiên sinh sống ẩn dật, danh tiếng chưa bay xa. So với Trang tiên sinh chỉ nhận lời mời của Bạch lão gia về làng gõ đầu trẻ cho đám nhóc tì, thì hai vị tiên sinh khét tiếng trên huyện hiển nhiên là lựa chọn sáng giá hơn. Thế nên Quan Vịnh được gửi lên huyện học từ sớm, và luôn nghiễm nhiên giữ vững vị trí “con nhà người ta” xuất sắc nhất trong ba làng lân cận, chỉ ngậm ngùi xếp sau mỗi Bạch Đại Lang.

Tiếc là về sau lại mọc ra một Bạch Thiện, ngay cả cái tên học dở ẹc Bạch Nhị Lang cũng vượt mặt hắn, lóc cóc kéo nhau lên Ích Châu tầm sư học đạo…

Quan Vịnh khẽ hắng giọng, lôi dòng suy nghĩ đang bay bổng trở về thực tại, nhìn vợ nói: “Chỉ là… ta nhớ con quá.”

Chu Lập Tín cũng nhung nhớ con da diết, nụ cười trên môi vụt tắt, thở dài sườn sượt: “Chẳng biết thằng bé ở nhà có ngoan ngoãn nghe lời không. Hay là đợi tiểu cô thành thân xong, ta lóc cóc theo nhị thúc (chú hai) về quê nhé.”

“Đừng,” Quan Vịnh vội vàng can ngăn: “Nàng nỡ lòng nào vứt bỏ ta bơ vơ một mình nơi đất khách quê người sao.”

“Thì vẫn còn nhạc phụ, nhạc mẫu ở đây mà.”

Quan Vịnh lắc đầu: “Nhạc phụ nhạc mẫu dĩ nhiên là tốt, nhưng từ lúc thành thân đến giờ chúng ta luôn như hình với bóng. Đã cất công lên kinh thành, sao nàng lại đành lòng về quê một mình? Yên tâm đi, mẹ chắc chắn sẽ chăm nom thằng bé chu đáo.”

Quan Vịnh kìm nén nỗi nhớ nhung và lo âu trong lòng, quay sang dỗ dành, trấn an vợ.

Chu Lập Tín nghĩ tới việc chỉ vài ngày nữa là trượng phu sẽ bước vào trường thi, không muốn hắn phân tâm nên gật đầu ưng thuận.

Mới hết tết Trùng Dương được vài hôm, ngày mười hai tháng Chín, kỳ thi Tiến sĩ chính thức khởi động. Đám Bạch Thiện kéo nhau ra tiễn Bạch Đại Lang và hai người kia lên đường lai kinh ứng thí.

Bạch Thiện – tấm gương sáng ch.ói của việc thi đỗ Tiến sĩ – thân chinh tháp tùng ba người đến tận cổng Cống viện. Tình cờ đụng mặt Phong Tông Bình và Bùi Thủ Ước, liền tiện mồm tặng luôn cả thảy những lời chúc may mắn. Bất kể kết quả có ra sao, thì ngay lúc này đây, ai nấy đều hừng hực ý chí chiến đấu.

Nhưng bọn họ cũng chuẩn bị sẵn tâm lý cho tình huống xấu nhất. Phong Tông Bình rỉ tai Bạch Nhị Lang: “Lần này mà rớt, sang năm anh em ta rủ nhau thi Minh kinh nhé.”

Bạch Nhị Lang gật đầu.

Bạch Đại Lang cũng gật đầu cái rụp.

Bùi Thủ Ước và Quan Vịnh cũng âm thầm gật gù đồng ý.

Kỳ thi Tiến sĩ ngoài việc sát hạch khả năng viết luận (sách luận) và giải thích kinh nghĩa (thiếp kinh), còn trọng điểm soi xét tài làm thơ, cũng như danh tiếng của các sĩ t.ử.

Phong Tông Bình có danh tiếng khá tốt ở kinh thành, lại mang mác bạn học của Thái t.ử, mấy vị giám khảo đều ít nhiều nghe danh. Trong vòng hai năm qua, hắn cũng từng xuất xưởng hai ba bài luận sắc sảo.

Danh tiếng của Bạch Đại Lang cũng chẳng kém cạnh, năm ngoái suýt soát nữa thì chạm tay vào bảng vàng, nên mấy vị quan chấm thi đa phần đều biết tiếng. Tuy nhiên, hai người họ vẫn chưa “nổi đình nổi đám” bằng Bạch Nhị Lang.

Tên này thì nổi như cồn trên ba phương diện: Thứ nhất, hắn cũng là bạn học của Thái t.ử; Thứ hai, hắn mang danh đích phò mã tương lai; Thứ ba, hắn là sư đệ ruột của Chu Mãn và Bạch Thiện. Đặc biệt là trong năm nay, cái tấu chương đề bạt cải cách Thái y thự do hắn, Bạch Thiện và Chu Mãn đồng chắp b.út thỉnh thoảng lại được Hoàng đế lôi ra làm tài liệu “mổ xẻ” trước mặt bá quan văn võ.

Đã đủ trình ngồi ghế giám khảo kỳ thi Tiến sĩ, thì danh phận dĩ nhiên chẳng phải hạng xoàng, chắc chắn họ cũng đã từng nghía qua cái tấu chương của Bạch Nhị Lang.

Chính vì thế, họ phải thừa nhận rằng Bạch Nhị Lang ít nhiều cũng có chút năng lực thực sự. Lúc chấm bài, họ cũng tự động xếp bài thi của hắn vào nhóm “có khả năng đỗ”.

Xếp hạng xong xuôi, họ mới mang danh sách vào cung trình Hoàng đế. Ừm, thông thường Hoàng đế chỉ để mắt tới ba vị trí dẫn đầu. Dĩ nhiên, nếu hôm nào Hoàng đế hứng chí, ngài cũng có thể ngó nghiêng sắp xếp lại mấy thứ hạng phía sau, còn đám đại thần có nghe theo hay không thì lại là chuyện khác.

Hoàng đế rút bài thi của Bạch Đại Lang ra săm soi một lúc, gật gù ưng ý. Lướt mắt qua bản danh sách, thấy các giám khảo xếp hắn ở vị trí mười hai thì chẳng có ý kiến gì. Nhưng đến bài thi của Bạch Nhị Lang, Hoàng đế lại bắt đầu đắn đo suy nghĩ.

Kỳ thi lần này, Lý Mậu Ước cũng là một trong những vị giám khảo. Thấy Hoàng đế trầm ngâm, hắn bèn lên tiếng hỏi: “Bệ hạ thấy bài thi này chưa đạt yêu cầu ạ?”

Hoàng đế đáp: “Cũng không hẳn là dở. Trẫm có xem qua vài bài thi khác, văn phong của hắn có thể hơi lép vế, nhưng kiến thức và tầm nhìn chẳng hề thua kém ai, lại còn rất thực tế. Các khanh xếp hắn ở vị trí thứ hai mươi cũng không tồi, nhưng một nhà mà đỗ tới hai Tiến sĩ…”

Ngài cảm thấy ân sủng này có vẻ hơi quá trớn.

Nhưng Lý Mậu Ước lại hiểu lầm ý Hoàng đế sang một hướng khác, cười nói: “Bẩm bệ hạ, Ngụy công từng nói ‘cử hiền bất tị thân’ (tiến cử người tài không tị hiềm người thân). Bạch Thành đã có tài kinh luân như vậy, nếu chỉ vì cái mác đích phò mã mà bị đ.á.n.h trượt, thì quả thực quá bất công cho hắn.”

Hoàng đế nhướng mày, tỏ vẻ tán đồng sâu sắc. Khụ khụ, ngài đâu có làm bộ làm kịch, ngài làm vậy là để thiên hạ thấy rõ Bạch Thành đỗ đạt không phải do ngài thiên vị, mà là do hắn thực sự có thực tài.

Dù vậy, Hoàng đế vẫn đề cao tính công bằng, ngài cho rằng xếp hắn ở vị trí hai mươi vẫn hơi có mùi “bơm vá”, thế là tiện tay gạt hắn xuống vị trí hai mươi ba.

Các vị giám khảo chính xem qua, gật gù cho rằng Hoàng đế xử sự khá công minh, thế là danh sách chính thức được chốt hạ.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!


Viết bình luận

Bạn cần đăng nhập để tham gia thảo luận.

Đăng nhập ngay